Dịch vụ kiều hối

Khơi thông dòng vốn Tam nông – nhìn từ hiệu ứng của NĐ 41 tới kỳ vọng vào những điểm mới trong NĐ 55 (30/7/2015)

Là chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, đầu tư tín dụng cho phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân luôn nhận được sự đồng tình, ủng hộ và kỳ vọng của người dân về những cơ chế thông thoáng, an toàn và hiệu quả. Thực hiện tốt Nghị định 41/2010/NĐ-CP (Nghị định 41) của Chính phủ, Agribank đã góp phần củng cố vị trí chủ lực trên thị trường nông nghiệp, nông thôn, qua đó tranh thủ sự chỉ đạo, ủng hộ của Đảng, Nhà nước, các Bộ ngành và chính quyền các cấp trong lĩnh vực đầu tư tín dụng cho nông nghiệp, nông thôn nói riêng và trong hoạt động ngân hàng nói chung.

Nghị định 41 đã đi vào cuộc sống!

Sau hơn 05 năm triển khai thực hiện chính sách tín dụng phát triển nông nghiệp, nông thôn theo Nghị định 41 của Chính phủ, Agribank đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, đóng góp không nhỏ vào việc phát triển kinh tế của đất nước, đẩy mạnh tín dụng phát triển nông nghiệp, nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa khu vực nông nghiệp, nông thôn và góp phần xã hội hóa ngân hàng trong thời gian qua.

Tính đến 30/6/2015 tổng nguồn vốn huy động của Agribank là 733.606 tỷ đồng, tổng dư nợ cho vay nền kinh tế đạt 569.604 tỷ đồng. Doanh số cho vay theo Nghị định 41 kể từ khi thực hiện đến 30/6/2015 đạt 1.001.306 tỷ đồng, số lượt khách hàng vay vốn là 5.442.170 khách hàng. Dư nợ cho vay theo Nghị định 41 đến 30/6/2015 đạt 181.514 tỷ đồng, số khách hàng còn dư nợ là 2.016.348 khách hàng. Agribank đã góp phần đưa dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn đến 30/6/2015 là 426.022 tỷ đồng, tăng so với thời điểm 30/6/2010 (khi bắt đầu triển khai cho vay theo NĐ 41) là 184.979 tỷ đồng.  Trong đó, tỷ trọng dư nợ cho vay theo 3 trọng điểm là cho vay xây dựng nông thôn mới, hỗ trợ các huyện nghèo theo NQ 30a và hỗ trợ nhằm tổn thất trong nông nghiệp. Được áp dụng thí điểm từ năm 2010 với 11 xã cho vay xây dựng nông thôn mới, đến 30/6/2015, Agribank đã triển khai nhân rộng đến 8.985 xã trong cả nước, dư nợ đến 30/6/2015 là 233.841 tỷ đồng, toàn bộ số dư nợ này nằm trong dư nợ nông nghiệp, nông thôn. Đối với cho vay hỗ trợ 62 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ đến 30/6/2015 dư nợ của Agribank cho lĩnh vực này là 2.151 tỷ đồng, số khách hàng còn dư nợ là 53.748 khách hàng. Cùng với đó là việc thực hiện cho vay theo Quyết định 63/2010/QĐ-TTg ngày 15/10/2010, quyết định 65/2011/QĐ-TTg ngày 02/12/2012 và quyết định 68/2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp, Agribank đã hỗ trợ cho vay 14.079 khách hàng với doanh số cho vay là 3.279 tỷ đồng, số lãi hỗ trợ 278 tỷ đồng, đến nay số khách hàng còn dư nợ là 9.678 khách hàng, dư nợ 2.226 tỷ đồng.

Để triển khai nghị định 41 có hiệu quả, Agribank đã xây dựng quy trình cho vay, hồ sơ thủ tục đối với cho vay nông nghiệp, nông thôn, nông dân đơn giản nhất, tiết kiệm chi phí, giúp người dân dễ dàng tiếp cận vốn vay. Agribank đã chỉ đạo các chi nhánh trong hệ thống khảo sát nắm bắt tình hình kinh tế – xã hội tại địa phương, nắm bắt nhu cầu về vốn lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; đồng thời tham mưu với chính quyền địa phương các cấp, phối hợp với các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội các cấp để tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị định 41.

Thường xuyên tổ chức hội nghị khách hàng để tuyên truyền các chính sách ưu đãi về tín dụng của Chính phủ, đưa ra các giải pháp đầu tư hiệu quả, Agribank đã thành lập các tổ cho vay lưu động xuống tận địa bàn các xã để giải ngân, thu nợ nhằm tiết kiệm thời gian và công sức đi lại của người dân; ban hành hướng dẫn cho vay thông qua tổ, nhóm, phối hợp cùng các tổ chức chính trị, xã hội thành lập các tổ vay vốn. Thông qua các tổ vay vốn, Agribank đã tuyên truyền chính sách của Chính phủ, ngân hàng, hướng dẫn kỹ năng quản lý sử dụng vốn vay đảm bảo hiệu quả, gắn với việc tuyên truyền, hướng dẫn sử dụng các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, đây cũng là kênh chuyển tải vốn vay ngân hàng đến người dân mà tiết kiệm được chi phí, giảm tải cho cán bộ tín dụng khu vực nông nghiệp, nông thôn. Nghiên cứu ban hành các sản phẩm về tín dụng, các dịch vụ, đa dạng hóa các danh mục sản phẩm dịch vụ để đáp ứng nhu cầu tài chính của khách hàng, đặc biệt là khách hàng khu vực nông nghiệp nông thôn như sản phẩm cho vay lưu vụ, sản phẩm cho vay chứng minh tài chính, sản phẩm cho vay hạn mức tín dụng đối với hộ gia đình, cá nhân sản xuất kinh doanh quy mô nhỏ, cho vay hộ gia đình cá nhân thông qua tổ cho vay liên kết…

“Chiếc áo cũ” đã đến lúc cần thay…

Sau 5 năm đi vào triển khai, Nghị định số 41/2010/NĐ-CP đã dần bộc lộ những điểm bất cập. Không thể phủ nhận hiệu quả của Nghị định 41 đã tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tuy nhiên trên thực tế rất ít các TCTD tham gia, chủ yếu Agribank vẫn chiếm thị phần lớn trên địa bàn. Nguồn vốn theo quy định của Nghị định nhiều nhưng thực tế chỉ dựa vào nguồn vốn huy động của Ngân hàng, mà với nguồn vốn huy động thì lãi suất cạnh tranh do vậy nguồn huy động lãi suất rẻ còn rất hạn chế.

Nghị định số 41/2010/NĐ-CP đang vấp phải nhiều khó khăn về cơ chế chính sách của Nhà nước, của các Bộ ngành liên quan đến phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Cụ thể, đối tượng còn bị bó hẹp, chỉ ở phạm vi các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, chủ trang trại cư trú và có cơ sở hoặc dự án sản xuất kinh doanh trên địa bàn nông thôn. Hơn nữa, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và sở hữu tài sản trên đất ở nông thôn, giấy chứng nhận trang trại cho các chủ trại còn quá chậm. Mức cho vay không có bảo đảm tài sản còn thấp. Nghị định 41 mới chỉ quy định không thu lệ phí đăng ký giao dịch bảo đảm. Trong khi đó, cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn chuyển dịch chậm, mang tính tự phát cao. Việc áp dụng khoa học – công nghệ vào sản xuất chưa nhiều, mô hình sản xuất công nghệ cao, mô hình liên kết theo chuỗi giá trị còn quá ít và hiệu quả thấp, sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp còn yếu. Mặt khác, quy hoạch sản xuất, quản lý thị trường không tốt. Môi trường sản xuất ngày càng ô nhiễm, dịch bệnh cây trồng, vật nuôi ngày càng tăng; thị trường nông sản hàng hóa bấp bênh, giá cả đầu ra không ổn định, tình trạng “được mùa rớt giá” xảy ra thường xuyên ở hầu hết các mặt hàng nông, thủy hải sản nên ảnh hưởng kết quả sản xuất kinh doanh, dẫn đến thu hồi vốn chậm là những trở ngại đối với việc đầu tư tín dụng.

Bên cạnh đó, việc tổ chức quán triệt và tuyên truyền về NĐ 41/NĐ-CP tại các địa phương và các cơ quan chức năng các cấp chưa được thực hiện một cách quyết liệt và sâu rộng. Hợp tác xã, tổ hợp tác còn non yếu, chưa làm tốt vai trò liên kết, hỗ trợ kinh tế hộ trong hoạt động sản xuất kinh doanh, chưa có nhiều doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn nông thôn. Các ngành dịch vụ phục vụ nông nghiệp chưa phát triển, tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch còn cao. Dịch vụ hỗ trợ, giao thông nông thôn còn hạn chế. Việc phối hợp các ngành, các cấp, các đơn vị chức năng trong việc xử lý nợ quá hạn, nợ tồn đọng kéo dài, xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho Ngân hàng còn rất nhiều khó khăn.

8 điểm mới trong Nghị định 55 – Những nút thắt sẽ sớm được tháo gỡ

Để hạn chế những bất cập trong Nghị định 41, nhất là đòi hỏi một sự thay đổi tất yếu do yêu cầu thực tế trong cho vay nông nghiệp, nông thôn, ngày 09/6/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định 55/2015/NĐ-CP thay thế Nghị định 41/2010/NĐ-CP; Nghị định 55 cơ bản đã khắc phục được hầu hết những vướng mắc, hạn chế của Nghị định 41 và có nhiều điểm mới, phù hợp với xu hướng mới trong sản xuất nông nghiệp hiện nay, thúc đẩy sản xuất phát triển, bứt phá kinh tế nông nghiệp, nông thôn.

Thứ nhất, Nghị định 55 đã bổ sung đối tượng được vay vốn phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn bao gồm cả các đối tượng là cá nhân, hộ gia đình ngoài địa bàn nông thôn nhưng tham gia sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp.

Thứ hai, Nghị định 55 đã nâng mức cho vay không có tài sản bảo đảm đối với các đối tượng là cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, chủ trang trại, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã… lên từ 1,5 đến 2 lần so với quy định tại Nghị định 41 và được quy định thành nhiều mức khác nhau. Ngoài ra còn quy định mức cho vay không có tài sản bảo đảm đối với một số lĩnh vực đặc thù có nhu cầu vốn lớn trong sản xuất nông nghiệp như đầu tư cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm, nuôi trồng, khai thác thủy sản xa bờ, cung cấp dịch vụ hậu cần nghề cá… cao hơn các lĩnh vực khác.

Thứ ba, Nghị định 55 có quy định riêng về chính sách tín dụng khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp theo mô hình liên kết, mô hình ứng dụng công nghệ cao. Đây là nội dung mới, nhằm cụ thể hoá Nghị quyết 14/NQ-CP ngày 05/3/2014 của Chính phủ và phục vụ đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp đã được Thủ tướng phê duyệt. Nội dung chính sách hỗ trợ tập trung vào quy định mức cho vay không có tài sản bảo đảm và cơ chế xử lý khoản nợ khi gặp rủi ro do nguyên nhân khách quan, bất khả kháng. Với chính sách này, các doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã sẽ yên tâm hơn trong việc đầu mối tham gia mô hình liên kết, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp.

Thứ tư, Nghị định 55 đã đưa ra phương thức cho vay mới (phương thức cho vay lưu vụ), phương thức này đã được Agribank áp dụng từ lâu và chủ yếu với loại hình cây lúa, nhưng gần đây đã được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận cho bổ sung cây lưu gốc, cây công nghiệp có thu hoạch hàng năm và bây giờ được Chính phủ thừa nhận và “pháp điển hóa” đối với phương thức cho vay này với đối tượng mở rộng là cây trồng, vật nuôi có tính chất mùa vụ theo chu kỳ sản xuất liền kề trong năm hoặc các cây lưu gốc, cây công nghiệp có thu hoạch hàng năm.

Thứ năm, Nghị định 55 có cơ chế khuyến khích khách hàng vay vốn tham gia mua bảo hiểm đối với đối tượng sản xuất nông nghiệp hình thành từ vốn vay thông qua việc quy định tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay với mức tối thiểu 0,2%/năm so với lãi suất của các khoản cho vay cùng loại và có thời hạn tương ứng.

Thứ sáu, Nghị định 55 quy định cụ thể hơn về nguyên tắc, quy trình xử lý các khoản nợ vay gặp rủi ro do thiên tai, dịch bệnh trên phạm vi rộng hoặc do nguyên nhân khách quan bất khả kháng đối với khách hàng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.

Thứ bảy, Nghị định 55 cũng khuyến khích các tổ chức tín dụng đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn thông qua quy định về trích lập dự phòng rủi ro, hỗ trợ nguồn vốn và các công cụ điều hành chính sách tiền tệ khác.

Thứ tám, Nghị định 55 cũng bổ sung thêm quy định cá nhân, hộ gia đình vay vốn tại tổ chức tín dụng không phải nộp lệ phí chứng thực hợp đồng thế chấp tài sản tại cơ quan thực hiện chứng thực hợp đồng.

Tiếp tục khẳng định vai trò tiên phong của mình trong đầu tư tín dụng cho nông nghiệp nông thôn trong hệ thống ngân hàng, Agribank đã chuẩn bị sẵn sàng nguồn vốn để đáp ứng đầy đủ, kịp thời mọi nhu cầu của các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Trong thời gian tới, Agribank sẽ ban hành văn bản quy định cho vay đối với khách hàng theo Nghị định 55 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn trên cơ sở đã chỉ đạo các chi nhánh trong hệ thống khảo sát, nắm bắt nhu cầu vốn tín dụng theo Nghị định 55 trên phạm vi toàn quốc. Với một tấm áo mới, kỳ vọng khi Nghị định có hiệu lực sẽ khơi thông dòng vốn tín dụng đầu tư cho khu vực nông nghiệp, nông thôn.

Ths. Phạm Hồng Sơn

Trưởng ban Khách hàng HSX&CN Agribank